Vì sao lúc này là "thời điểm vàng" đưa nông sản Việt thâm nhập sâu vào thị trường Halal 12.000 tỷ USD?

Hôm nay (7/5), tại TP Cần Thơ, Văn phòng SPS Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ tổ chức hội nghị “Cập nhật các quy định và cam kết về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong Hiệp định VIFTA, CEPA (Israel và các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất)”.

2 tỷ người Hồi giáo trên thế giới: Thị trường rất tiềm năng đối với nông, lâm, thủy sản của Việt Nam

Hội nghị “Cập nhật các quy định và cam kết về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong Hiệp định VIFTA, CEPA (Israel và các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất)” quy tụ hơn 100 đại biểu tham dự trực tiếp và các điểm cầu (các nhà quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất) tại 34 tỉnh/thành phố trên cả nước.

Ông Ngô Xuân Nam - Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam phát biểu tại hội nghị “Cập nhật các quy định và cam kết về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong Hiệp định VIFTA, CEPA. Ảnh: H.X 

Theo báo cáo tại hội nghị, thị trường khoảng 2 tỷ người Hồi giáo theo hệ thống kiểm soát chất lượng tiêu chuẩn Halal hiện có quy mô hơn 8.000 tỷ USD, dự kiến đạt 12.000 tỷ USD trong 5 năm tới, trở thành một trong những ngành kinh tế tiêu dùng phát triển nhanh nhất thế giới.

Trong đó, thực phẩm Halal chiếm khoảng 65% tổng kim ngạch thương mại, là phân khúc năng động nhất, với mức tăng trưởng bình quân trên 10%/năm.

Việt Nam với vị trí chiến lược tại khu vực Đông Nam Á, được đánh giá là “cửa ngõ tiềm năng” kết nối thị trường Halal khu vực với thế giới. Với hơn 2 tỷ người theo đạo Hồi trên toàn thế giới, ngành công nghiệp Halal hiện đang phát triển mạnh mẽ. Việc thiết lập các tiêu chuẩn Halal từ sản xuất đến phân phối đang trở thành xu hướng chung, tạo ra cơ hội lớn đối với xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam.
Hiện nhu cầu đối với thực phẩm và sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, an toàn, đáp ứng tiêu chuẩn Halal và các quy định SPS liên quan tiếp tục gia tăng, nhất là khu vực Đông Nam Á, Trung Đông và châu Phi.

Thời gian qua, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để tiếp cận thị trường trên thông qua các hiệp định thương mại đã ký kết như Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Israel (VIFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam - UAE (CEPA).
Tại TP Cần Thơ, từ năm 2019, đã sớm quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận chứng nhận Halal, tiêu biểu là việc hợp tác với Tổ chức RSD Management Solution của Malaysia thành lập Trung tâm Chứng nhận Halal Việt Nam – Malaysia đầu tiên tại vùng ĐBSCL.

TP. Cần Thơ còn là nơi tập trung nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản, nhiều doanh nghiệp đã đạt chứng nhận Halal và cung cấp sản phẩm ổn định phục vụ cho xuất khẩu vào thị trường chủ yếu như: Ấn Độ, Malaysia, Philippines, Bangladesh, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Iraq, Nga, Campuchia, Thái Lan, Hồng Kông.

Đối với ngành cá tra, Trung Đông là thị trường năng động với giá trị nhập khẩu thủy sản cao, nơi cá tra Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn (đóng góp 22% kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang khu vực này vào năm 2025, doanh thu trên 330 triệu USD).

Tại Cần Thơ, các doanh nghiệp như Caseamex hay Biển Đông là 2 doanh nghiệp dẫn đầu trong xuất khẩu cá tra có chứng nhận HALAL. Trong đó, Công ty TNHH Thủy sản Biển Đông từng nằm trong top 5 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.

Đối với ngành gạo và nông sản chế biến, Công ty Trung An hoặc Đinh Gia Foods đã bắt đầu đưa những lô hàng gạo thơm, hạt điều, trái cây sấy sang Malaysia và Singapore...

Lúc này là “thời điểm vàng” để Việt Nam vươn lên lấp đầy khoảng trống thị trường Halal

Tuy nhiên, theo đánh giá của các đại biểu, mức độ tham gia của Việt Nam vào thị trường 2 tỷ người Hồi giáo còn chưa tương xứng với tiềm năng, số mặt hàng xuất khẩu còn hạn chế và nhiều địa phương vẫn chưa có sản phẩm xuất khẩu được chứng nhận Halal.

Lúc này là "thời điểm vàng" đưa nông sản Việt thâm nhập sâu vào thị trường Halal 12.000 tỷ USD. Trong ảnh, các đại biểu tham quan gian hàng trưng bày sản phẩm bên lề hội nghị. Ảnh: H.X

Cụ thể, nhìn vào số liệu, tính đến cuối năm 2025, TP Cần Thơ hiện chỉ có khoảng 56 doanh nghiệp đạt chứng nhận Halal. Nếu so với tổng số hơn hàng ngàn doanh nghiệp thực phẩm tại thành phố, con số này thực sự còn quá nhỏ bé, chưa tới 3%.

Ông Dương Hải Lâm – Chi Cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ) nói: "Thực tế, xuất khẩu Halal của TP Cần Thơ đang có một nghịch lý. Hàng có rất nhiều nhưng nhãn Halal lại rất ít. Nhiều doanh nghiệp tại các khu công nghiệp Trà Nóc xuất khẩu hàng đi UAE hay Saudi Arabia với giá trị hàng triệu USD mỗi năm, nhưng thực tế chỉ có khoảng 30% sản phẩm là được dán nhãn Halal chính thức. Phần còn lại vẫn xuất dưới dạng thực phẩm thông thường. Vấn đề trên đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp đang tự đánh mất đi khoảng 10-15% giá trị gia tăng về giá bán nếu có chứng nhận".

Cũng theo ông Lâm, hiện nay, Malaysia và Indonesia là hai cửa ngõ chính. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Cần Thơ đang gặp khó vì tiêu chuẩn Halal của Malaysia (JAKIM) và Indonesia (BPJPH) lại có những điểm khác biệt, buộc doanh nghiệp phải tốn gấp đôi chi phí nếu muốn đánh cả hai thị trường.

Ông Lâm thông tin thêm, một chứng nhận Halal có hiệu lực khá ngắn (thường từ 1-3 năm). Trong khi đó, chi phí đánh giá, mời chuyên gia từ Malaysia hoặc từ các tổ chức quốc tế về tận nhà máy địa phương tốn kém từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng. Với doanh nghiệp, đây là một khoản đầu tư đầy rủi ro nếu chưa có đơn hàng chắc chắn.

Ngoài ra, để có sản phẩm chuẩn Halal thì tất cả các nguyên vật liệu, phụ gia trong sản xuất phải có chứng nhận Halal nguồn gốc, mà TP Cần Thơ hiện đang thiếu một "hệ sinh thái Halal".
Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp còn ngần ngại tìm kiếm thị trường mới, vẫn hài lòng với các thị trường truyền thống như Trung Quốc hay EU mà chưa thấy được sức mua lớn đầy tiềm năng từ các quốc gia như Pakistan hay Nigeria – những nơi dân số Hồi giáo đang tăng trưởng cực nhanh.

Trong khi đó, ông Ngô Xuân Nam - Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam cho hay, hiện các biện pháp SPS của thị trường nhập khẩu thường xuyên thay đổi và cập nhật. Đối với thị trường Halal, mức độ phức tạp còn cao hơn do ngoài yêu cầu về SPS còn cần đáp ứng các yêu cầu đặc thù liên quan đến nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, tính phù hợp với luật Hồi giáo và cơ chế công nhận chứng nhận Halal giữa các quốc gia, tổ chức chứng nhận.
Do vậy, việc cập nhật các quy định và cam kết về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật trong Hiệp định VIFTA, CEPA (Israel và các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất)” là rất cần thiết.

Theo ông Ramlan Bin Osman - Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), trong bối cảnh các nhà cung cấp truyền thống đang gặp gián đoạn do biến động địa chính trị, đây chính là “thời điểm vàng” để Việt Nam vươn lên lấp đầy khoảng trống thị trường, đặc biệt là các mặt hàng trái cây và rau quả tại Trung Đông.

Việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị Halal không chỉ giúp nông sản Việt Nam tăng giá trị xuất khẩu mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp chuyển mình theo hướng chuyên nghiệp, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe nhất của thị trường toàn cầu.
Thời gian qua, để tăng cường xuất khẩu vào thị trường 2 tỷ người Hồi giáo, Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030”. Tính đến nay, đã có 18 biên bản ghi nhớ (MOU) về Halal được ký kết. Đồng thời, Việt Nam đã thành lập Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia và xây dựng 7 tiêu chuẩn Halal quốc gia.

Để những nền tảng này thực sự mang lại hiệu quả kinh tế, ông Nguyễn Thành Duy - Phó Vụ trưởng Vụ Trung Đông - Châu Phi (Bộ Ngoại giao) đề xuất, tăng cường xúc tiến quảng bá sản phẩm Halal, hỗ trợ, kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác, thị trường Halal toàn cầu.

Huỳnh Xây (Báo Dân Việt)